Ta Mở Tiệm, Kiếm Tiền, Cưới Tri Huyện - Chương 66
topicTa Mở Tiệm, Kiếm Tiền, Cưới Tri Huyện - Chương 66 :
Trong nhà rộn ràng, tiếng cười nói, la hét, ồn ào như chợ, âm thanh ấy theo gió bấc bay là là ra tận ngoài tường.
Mà ngoài tường, đúng lúc Tống góa phụ uốn éo cái eo, đầu đội hoa đi ngang. Bà ta vểnh tai nghe lỏm, ghé sát vào vách tường.
Ơ?
“Vong ân bội nghĩa? Bạc tình bạc tánh? Không tha cho hắn?”
Hê hê hê
Sáng hôm sau, cả núi Nương Nương Lĩnh đã đồn ầm lên:
“Con rể Vương gia vong ân bội nghĩa, bạc tình bạc tánh, sắp bỏ vợ rồi đó!”
Thoắt cái, lại thêm một năm trôi qua. Trên trời ngỗng về đầu thu, trong sân cúc vàng nở rộ.
Ba năm nhiệm kỳ ở Đường huyện của Lục Phỉ đã mãn, đầu tháng chín triều đình hạ chiếu, sai hắn trước tháng mười một phải đến Bộ Lại nhận chức Chủ sự lục phẩm.
Vì sau khi nhậm chức ở kinh thành sẽ càng bận rộn, Hồng di bàn với cha nương ta, định luôn hôn kỳ vào cuối tháng chín.
Trước ngày thành thân một hôm, nương ta bí mật gọi ta vào buồng, cầm một tờ danh sách hồi môn màu đỏ phe phẩy trước mặt.
“Vương Đậu Nha, con xem đi, hồi môn của con còn nhiều hơn của hai tỷ tỷ đấy!”
Ta đón lấy, cúi xem, vừa liếc một hàng, sợ đến trợn tròn mắt:
“Trời ơi Nương ơi, nhiều thế này sao?!”
Tờ danh sách dài đến ba thước, chữ viết ken đặc, liệt kê toàn thứ quý giá: ruộng đất, cửa hàng, nhà cửa, đồ gỗ, vàng bạc, đầu trâm, gấm vóc, chăn nệm…
Nương vừa nói vừa đếm, giọng đầy kiêu hãnh:
“Trăm mẫu rừng kia là bà nội con lén mua năm ngoái, căn nhà ở Đường huyện là cậu ông con cho, ba tiệm trên phố Quả Tử tỷ tỷ đều sang tên cho con, còn mấy bộ trâm vàng này là hai đứa góp thêm của hồi môn.”
Giọng Nương run run, còn mắt ta thì dần dần mờ đi. Những dòng chữ đỏ, từng con số, từng món đồ, bỗng trở nên nhòe nhoẹt như nước mắt.
“Đậu Nha à, ngày mai con thành thân rồi, Nương… Nương muốn xin lỗi con. Năm xưa Nương không nên mắng con như thế.”
“Nương ơi”
Một tiếng “nương” nghẹn ngào bật ra, chúng ta ôm chặt lấy nhau mà khóc, như trút hết bao năm ấm ức, bao nỗi cay đắng và tình thương bị kìm nén trong lòng.
Vì người thân của ta đều ở thôn Vân La, còn Lục Phỉ ba năm làm quan ở Đường huyện, bạn bè thân thích phần nhiều cũng nơi đây, nên chúng ta quyết định tổ chức hôn lễ tại núi Nương Nương Lĩnh.
Nhà họ Lục ở Nam Dương con cháu đông, nhưng người thật sự có tiền đồ như “Thập nhị lang” chỉ có một, nên tộc trưởng họ Lục đặc biệt phái người mang đại lễ đến chúc mừng.
Ngày cưới, khách khứa đông nghẹt sân nhà, cao thấp, béo gầy, quan lại, dân thường, Vương gia tiếp đãi ai cũng như ai, không phân sang hèn, chỉ có tiếng cười rộn ràng.
Bà con láng giềng nhờ bán trái cây cho tiệm nhà ta mà có lợi, nên hôm nay ai cũng mang lễ mừng đến ăn cỗ.
Giữa đám đông ồn ào, ta chợt nhìn thấy thợ săn họ Lưu ở núi Thanh Thạch.
“Nương, sao lại mời nhà đó tới?!” – ta bực.
Nhà đó năm xưa vì chút bạc mà trở mặt, đòi lui hôn, còn kiện cha ta ra quan! Giờ lại còn có mặt mũi tới dự sao?!
Nương ta cũng bĩu môi khinh bỉ:
“Ai mời nó đâu! Chính thằng Lưu đó tự vác mặt tới, còn mang theo bốn mươi lượng bạc làm lễ mừng.”
Ta sững lại:“Bốn mươi lượng? Đó chẳng phải là tiền nhà mình từng cho hắn vay sao?”
“Đúng! Chưa thấy ai mặt dày như thế, đến ăn cỗ còn dám mang tiền vay làm quà! Nhưng hôm nay là ngày vui, ta cũng chẳng tiện đuổi đi.”
Ta cạn lời. Người như hắn… thôi, không nói nữa.
Dù sao vẫn còn hơn ông cậu bạc bẽo kia; nghe nương ta nói “tuyệt giao từ nay”, cả nhà cậu quả thật không dám ló mặt đến.
Trên bàn tiệc, người thích rượu chẳng thể tránh chuyện mời nhau cạn chén. Trong đám ấy, say khướt nhất lại là Phạm Chủ bạ của nha môn.
“Nào nào! Hôm nay Lục tri huyện là tân lang, không nên uống nhiều. Phạm mỗ bất tài, xin thay tân lang uống mấy chén!”
Bên cạnh, một tiểu lại không phục, bưng chén rượu cười giễu:“Thôi đi, đừng tỏ vẻ anh hùng nữa!Huynh là ai chứ, rượu huynh mời sao ngọt bằng rượu tân lang mời được?”
Phạm Trường Phủ khoát tay, nhướng mày cười hề hề:“Ta à?Ta là người đầu tiên nhìn ra đại nhân đây có lòng với tân phu nhân, thế huynh nói xem, ta có xứng được mời một chén không?”
“Oa”
Tiếng hò reo vang dậy khắp bàn tiệc, đám người lập tức sáng bừng hai mắt, hùa nhau giục: “Đại ca, nói đi, nói đi! Từ đầu kể lại cho chúng ta nghe xem nào!”
“Được thôi được thôi”
Phạm Trường Phủ vốn ngày thường nho nhã đạo mạo, mà hôm nay mồm mép dẻo hơn cả mấy bà hàng chợ.
Thật không nhìn ra, người này cũng biết tám chuyện như ai!
Đêm tân hôn, lang quân như ngọc, tân nương như hoa, giữa phòng loan trướng rực ánh hồng đăng, hai người đối diện, đều hơi có chút bối rối.
Nhưng cái khó đâu làm khó được ta, ta tuy là cô nương lần đầu lên kiệu hoa, song truyện tài tử giai nhân, kịch khúc tình lang giai nương ta đã đọc hát cả trăm quyển!
Thế là, để phá tan khoảng lặng ngượng ngập, ta đỏ mặt, khẽ ho một tiếng, quyết định mở màn bằng một bài thơ “phòng khuê đối đáp” thật nồng cháy.
Ta cười khẽ:
“Liễu biếc vàng tơ nhẹ, lê trắng thoảng hương ngần, Chàng có yêu chăng?”
Không ngờ vị quan trẻ nghiêm nghị hằng ngày kia, vào phòng lại biến thành một người chẳng biết xấu hổ là gì.
Hắn mỉm cười, đôi mắt sáng rực:
“Động nhỏ trời đất rộng, bình kia nhật nguyệt dài,Nàng có sợ chăng?”
Ánh nhìn hắn nồng nàn như lửa, cứ như thể chỉ cần ta khẽ chớp mắt thôi, cả người sẽ tan vào trong đôi mắt ấy.
Lời chàng nói chan chứa tình ý, ngữ điệu ấm áp mà khẽ khàng, mười ngón tay đan chặt lấy tay ta, như muốn đem cả quãng đời còn lại của hai người gắn vào cùng một sợi dây.
Tay ta bị chàng nắm chặt, rút thế nào cũng không ra, chỉ có gò má đỏ rực như ráng chiều.
“Dài hay ngắn, thì có liên quan gì đến ta?” – ta thẹn thùng quay đi.
“Tự nhiên là có liên quan.”
“Phi, ta lại chẳng phải người của chàng!”
“Còn muốn chối nữa à?”Đầu ngón tay chàng nhẹ lướt qua má ta, ánh mắt dõi sâu, mà nơi khóe môi thấp thoáng một nụ cười vừa si tình vừa cố nhịn.
“Nàng là tâm can của ta, là bảo bối của ta, là nương tử ngoan của ta.”
Ta: “…… Lại lén nghe ta hát chứ gì!”
Trời đất chứng giám, đây là thứ quan tri huyện không đứng đắn nhất thiên hạ!
Nửa tháng sau ngày cưới, Lục Phỉ phải rời Đường huyện lên kinh nhậm chức, Hồng di cùng ta mang theo đại nha, nhị nha đi cùng.
Đúng dịp tháng mười là mừng thọ cha, trước khi đi, ba tỷ muội chúng ta cùng chồng về Nương Nương Lĩnh dâng lễ mừng thọ.
Trong chính sảnh, ba cặp vợ chồng, Đại tỷ và Trần Chu, Nhị tỷ và Triệu Lý, ta và Lục Phỉ, đều quỳ lạy, dâng quà, chúc phúc.
Cha ta đầu đội mũ mới, mình mặc áo mới, chân mang giày mới, ngồi giữa đại đường, gương mặt hồng hào, nụ cười nở đến tận tai.
“Tốt, tốt lắm! Mau đứng dậy đi. Các con đều là đứa con ngoan của cha.
Từ nay phải vợ chồng hòa thuận, có gì cùng bàn bạc, ngày các con sống yên ấm, cha nương tự khắc sống thọ thêm mấy chục năm.
Ta nằm mơ cũng chẳng ngờ được, nhà mình lại có ngày phú quý như thế này. Đây ắt là tổ tiên hiển linh phù hộ.”
Ông vừa nói vừa cười, thì ngoài cửa chợt vang lên tiếng gõ “cộp cộp”, theo đó là một giọng trầm hùng, sang sảng:
“A-di-đà Phật!Nhà này rồi thế nào cũng phát!”
“Là Đại Hòa thượng!”cha ta mắt sáng như đuốc, vừa nghe tiếng liền bỏ cả đám con rể, vùng dậy chạy ra cửa.
“Đại sư! Quả nhiên là ngài!Ngài lại đến rồi!”
Ai ngờ vị hòa thượng áo vá rách vai kia vừa thấy ông, mặt liền biến sắc như ăn trộm bị bắt, vội vàng xoay người toan chạy:
“Ôi chao, nguy rồi nguy rồi, nhà này… ta từng lừa, à không, từng ghé rồi!”
Nhưng cha ta tay nhanh hơn miệng, đã tươi cười tóm chặt lấy cánh tay ông ta, không cho nhúc nhích nửa tấc:
“Đại sư, ngài đoán chuẩn thật!Vương gia ta thật sự phát đạt rồi!”
Cả nhà ta đứng đằng sau, nhìn cảnh ấy mà ngẩn ra như phỗng.
Từ hôm đó trở đi, ở trấn Vân La, núi Nương Nương Lĩnh, từ đầu làng đến cuối ngõ, từ nhà trước đến nhà sau, bỗng lan truyền một câu nói mới:
“Một nhà muốn hưng vượng, mỗi sáng gà gáy phải dậy sớm, mở toang cửa lớn. Vì chỉ cần lúc hàng xóm còn mơ màng lẩm bẩm nói một câu ‘Nhà họ ấy lại dậy rồi’, thì sớm muộn nhà đó cũng sẽ phát!”
Và nếu không tin, cứ nhìn sang Vương gia đầu làng phía Đông mà xem.